Người Tây Ninh cũ và người Long An cũ giờ là người chung một tỉnh, nhưng mỗi bên vẫn giữ nếp quen của mình. Phía Tây Ninh cũ là đất cao, đất đạo, gắn với núi Bà, Tòa Thánh, nghề mía mì, bánh tráng; phía Long An cũ là đất sông Vàm Cỏ, ruộng lúa, nhà cổ, mùa nước nổi. Khác nhau, nhưng không xa lạ, vì hai bên đã qua lại với nhau từ nhiều đời.
Bài này không nói bên nào hơn bên nào. Nó chỉ ghi lại những khác biệt mà người đi làm ăn, đi chơi, hay mới về sống ở tỉnh mới sẽ gặp, để khỏi bỡ ngỡ và khỏi lỡ lời.
Những gì viết ở đây là nét chung, không đúng với mọi gia đình. Một xã ven TP.HCM có khi giống thành phố hơn giống làng bên cạnh.
Đất làm nên người: cao và trũng
Ở vùng Tây Ninh cũ, đất xám bạc màu, mùa khô dài, nước tưới phải nhờ kênh từ hồ Dầu Tiếng hay giếng khoan. Người ở đây quen với cây chịu hạn: mì, mía, cao su, đậu phộng. Làm ăn trên đất khó nên tính người chắc chắn, chịu thương chịu khó, ít nói mà làm.
Ở vùng Long An cũ, nước là chuyện quanh năm. Phía dưới gần sông Vàm Cỏ thì đất phù sa, lúa tốt, cây trái nhiều. Phía trên Đồng Tháp Mười thì đất phèn, mùa khô nứt nẻ, mùa mưa thành biển nước. Người ở đây sống theo con nước, quen chuyện chờ nước, đón nước, tránh nước.
Một người lớn tuổi ở vùng Mộc Hóa cũ có thể kể chi tiết năm nào nước lớn, năm nào nước kém, như người Tây Ninh kể năm nào mía được giá. Hai câu chuyện khác nhau nhưng giống ở chỗ: cuộc sống phụ thuộc vào đất trời, nên người ta biết ơn, biết giữ.
Hiểu điều này giúp khách đi chơi biết hỏi chuyện. Ở vùng trên, hỏi chuyện mùa mía, mùa mì, chuyện núi; ở vùng dưới, hỏi chuyện con nước, mùa lúa, mùa cá. Người ta sẽ kể rất say, và đó là cách nhanh nhất để thấy mình không phải khách lạ.
Giọng nói và cách xưng hô
Cùng giọng Nam Bộ, khác nhịp. Cả hai bên đều nói giọng miền Nam, nhưng người vùng núi Bà hay nói chậm, nhỏ nhẹ; người vùng sông nước Cần Đước, Cần Giuộc nói nhanh và rổn rảng hơn.
Xưng hô theo thứ trong nhà. Gọi "anh Hai", "chị Ba", "cô Tư", "chú Út" là bình thường. Không biết thứ thì gọi anh, chị, cô, chú theo tuổi là được.
Người lớn tuổi thích được gọi đúng vai. Gọi "bác" với người miền Nam lớn tuổi đôi khi lạ tai; "cô", "chú", "ông", "bà" quen hơn.
Ở vùng đạo, lời nói chừng mực hơn. Gần Tòa Thánh, nhiều gia đình theo đạo Cao Đài, ăn nói từ tốn. Khách to tiếng, nói tục dễ bị nhìn.
Từ địa phương dễ nghe nhầm. Người ta nói "đi chợ Long Hoa", "xuống Tân An", "lên núi", "lên Tòa" theo hướng quen. Hỏi lại nếu không rõ, không ai phiền.
Người vùng biên quen nghe tiếng Khmer. Ở dải biên giới, người hai bên qua lại buôn bán lâu đời, nhiều người biết vài câu tiếng Khmer. Nghe lạ đừng tò mò quá mức.
Lời mời ăn là thật lòng. Ghé nhà người quen ở quê, được mời ở lại ăn cơm là chuyện thường. Từ chối khéo thì được, nhưng từ chối cộc lốc dễ làm chủ nhà buồn.
Ít khen chê thẳng mặt. Người hai vùng đều ít khi chê thẳng. Muốn góp ý chuyện gì, nói vòng một chút, nhẹ nhàng thì dễ nghe hơn.
Bữa cơm hai miền đất
Bữa ăn ở vùng Tây Ninh cũ có mặt bánh tráng gần như mọi lúc: bánh tráng phơi sương cuốn thịt luộc với rau rừng, bánh tráng chấm muối tôm. Bánh canh Trảng Bàng là món sáng quen thuộc của cả vùng. Thịt bò tơ, các món từ măng, từ rau rừng quanh núi cũng hay gặp trên mâm.
Xuống vùng Long An cũ, mâm cơm thiên về cá đồng, rau đồng. Canh chua cá lóc, cá kho tộ, lẩu mắm, bông điên điển xào, bông súng chấm kho quẹt, đến mùa nước thì cá linh. Vùng Cần Đước có lạp xưởng, gạo thơm, vùng Bến Lức có rượu Gò Đen, chanh.
Khẩu vị nhìn chung đều đậm đà kiểu Nam Bộ, có ngọt, có mặn. Người từ miền khác tới đôi khi thấy ngọt, nhưng đó là vị quen của người ở đây, không nên chê.
Ở những gia đình theo đạo Cao Đài, có những ngày ăn chay theo lệ. Ăn ở nhà người quen vào ngày chay mà thấy mâm toàn món chay thì cứ vui vẻ ăn, đừng hỏi "sao không có thịt".
Đạo, đình và những điều nên tôn trọng
Tòa Thánh và thánh thất là nơi tu hành. Đạo Cao Đài khởi nguồn và có Tòa Thánh ở Tây Ninh. Nhiều thánh thất có mặt khắp tỉnh, kể cả vùng Long An cũ. Vào tham quan, ăn mặc kín đáo, đi theo hướng dẫn.
Núi Bà là nơi thờ Linh Sơn Thánh Mẫu. Người khắp Nam Bộ về viếng Bà, đặc biệt mùa xuân. Khách không cùng tín ngưỡng vẫn được đón, chỉ cần giữ lễ.
Đình làng Long An vẫn còn cúng kỳ yên. Nhiều đình ở vùng Long An cũ giữ lệ cúng hằng năm, có hát bội. Gặp đúng dịp, xin phép đứng xem là được.
Chùa Phật giáo có mặt khắp nơi. Từ chùa làng nhỏ tới chùa lớn. Cởi giày, nói nhỏ, không chụp ảnh sư đang tụng kinh.
Nhà nào cũng có bàn thờ. Bàn thờ gia tiên, bàn thờ Thiên Nhãn ở nhà người đạo Cao Đài, trang thờ ông Địa, Thần Tài ở nhà buôn bán. Đừng chạm vào đồ thờ, đừng đặt túi lên bàn thờ.
Có cộng đồng dân tộc khác cùng sống. Tỉnh có người Khmer, người Hoa, người Chăm sinh sống ở một số nơi. Mỗi cộng đồng có lễ riêng, trang phục riêng; tò mò thì hỏi lịch sự, không chỉ trỏ.
Không bàn luận giáo lý khi không hiểu. Khách hay hỏi những câu so sánh đạo này đạo kia. Hỏi để hiểu thì được, nhưng tránh tranh luận hay đùa cợt về niềm tin của người khác.
Ngày giỗ, ngày lễ trong nhà là ngày lớn. Ở quê, đám giỗ là dịp tụ họp cả họ. Được mời dự là được quý, nên mặc lịch sự và mang chút quà nhỏ.
Sống chung trong tỉnh mới: những chuyện thực tế
Đi tỉnh xa hơn với một số người. Người vùng núi Bà, Tân Biên phải đi xa hơn trước khi có việc ở cấp tỉnh. Phần lớn thủ tục vẫn làm ở xã, phường, nhưng nên hỏi trước qua cổng dịch vụ công.
Tên gọi quen vẫn dùng hằng ngày. Người ta vẫn nói "dân Gò Dầu", "dân Cần Đước", "dân Mộc Hóa" như trước. Tên vùng cũ là một phần của danh tính, không phải sai.
Hai bên đã có họ hàng với nhau từ lâu. Nhiều gia đình có người bên này lấy chồng, lấy vợ bên kia, nhất là vùng giáp ranh Trảng Bàng, Đức Hòa.
Ganh đua vui là có, nhưng đừng khơi. Người hai vùng hay đùa nhau chuyện món nào ngon hơn, đặc sản nào nổi hơn. Khách đứng ngoài thì nghe vui, đừng chen vào chọn phe.
Đặc sản giờ là của chung. Bánh tráng Trảng Bàng, mãng cầu Bà Đen, rượu Gò Đen, lạp xưởng Cần Đước giờ đều là đặc sản của một tỉnh. Giới thiệu đúng tên vùng gốc là cách tôn trọng người làm.
Người mới về sống nên học lịch mùa. Ở vùng trên, biết mùa khô kéo dài; ở vùng dưới, biết mùa nước lên. Hai chuyện này ảnh hưởng tới việc mua nhà, làm vườn, đi lại.
Hỏi người địa phương trước khi làm. Từ chuyện chọn đất, đào ao, tới chuyện tổ chức đám tiệc, có những tục lệ chỉ người ở lâu mới biết.
Tôn trọng là đủ để được quý. Không cần biết hết phong tục, chỉ cần tỏ ra tôn trọng, người ta sẽ chỉ bảo tận tình.
Câu hỏi thường gặp
Người Tây Ninh có tính cách thế nào?
Nét chung hay được nhắc là hiền, chậm rãi, chịu khó, nhất là ở vùng gần núi Bà và Tòa Thánh. Đây là nét chung theo vùng, mỗi người mỗi khác.
Người Long An nói giọng gì?
Người Long An nói giọng Nam Bộ, gần với giọng TP.HCM và miền Tây. Vùng sông nước phía dưới nói nhanh hơn, vùng Đồng Tháp Mười có nhiều từ gắn với ruộng đồng, sông nước.
Đạo Cao Đài có phổ biến ở Long An cũ không?
Có, nhiều nơi ở Long An cũ có thánh thất Cao Đài, nhưng đậm đặc nhất vẫn là vùng quanh Tòa Thánh ở Tây Ninh cũ. Phật giáo và tín ngưỡng đình làng cũng rất phổ biến.
Món ăn Tây Ninh và Long An khác nhau ra sao?
Vùng Tây Ninh cũ nổi với bánh tráng phơi sương, bánh canh Trảng Bàng, muối tôm. Vùng Long An cũ thiên về cá đồng, rau đồng, lạp xưởng Cần Đước, rượu Gò Đen.
Về Tây Ninh mới sống có khó hòa nhập không?
Thường không khó nếu tôn trọng phong tục và chịu khó hỏi chuyện. Người địa phương hai vùng đều hiếu khách, nhất là khi thấy người mới chịu tìm hiểu nếp sống ở đây.
Ghé nhà người quen ở quê nên mang gì?
Một ít trái cây, bánh trái hoặc quà nhỏ từ nơi mình ở là đủ. Nếu đúng ngày chay của gia đình theo đạo, tránh mang đồ mặn đặt lên bàn thờ.