TayNinhMoi.comVùng đất thánh và miền di sản phía Nam
Đồng Tháp Mười

Đồng Tháp Mười từ đồng hoang tới vựa lúa: kênh, bờ bao, sống với lũ

Đồng Tháp Mười đi từ một vùng đồng hoang ngập phèn thành vựa lúa nhờ nhiều thế hệ đào kênh thay nước, đắp bờ bao, chọn giống chịu phèn và dựng tuyến dân cư trên nền cao để sống chung với lũ; cái giá là ít phù sa, ít cá hơn xưa.

Dãy nhà trên nền cao bên con kênh, phía sau là ruộng nước, nhìn từ bờ đối diện

Đồng Tháp Mười đi từ một vùng đồng hoang ngập nước, đất chua phèn, thành vựa lúa của miền Nam nhờ công sức nhiều thế hệ: đào kênh để thay nước và rửa phèn, đắp bờ bao để giữ ruộng, chọn giống chịu chua, dựng nhà trên nền cao để sống chung với lũ. Đổi lại, đồng ruộng nhận ít phù sa hơn, cá tôm mùa nước cũng thưa hơn xưa. Cả câu chuyện là chuyện con người mặc cả với nước.

Bài này kể lại hành trình đó ở phần Đồng Tháp Mười thuộc Long An cũ, nay trong tỉnh Tây Ninh mới, theo cách người trong vùng hay kể: không số liệu khô khan, nhưng có lý do đằng sau từng con kênh, từng bờ đất. Ai muốn hiểu vì sao cảnh quan ở đây thẳng tắp như kẻ chỉ, vì sao nhà cửa dồn thành tuyến, sẽ tìm thấy câu trả lời.

Đồng Tháp Mười xưa: đồng lầy, cỏ năn và những người đến trước

Trong ký ức được kể lại, Đồng Tháp Mười xưa là vùng đồng lầy rộng mênh mông, cỏ năn, cỏ lác, lau sậy cao quá đầu người, mùa khô thì nứt nẻ, mùa mưa thì ngập trắng. Muỗi, đỉa, rắn nhiều đến mức thành câu cửa miệng. Người ta sống thưa thớt trên những gò đất cao, kiếm cá, bắt rắn, lấy mật ong, ít ai dám làm ruộng lớn.

Chính vì hiểm trở, vùng này từng là nơi dựa lưng của những cuộc kháng cự. Người ta vẫn nhắc nghĩa quân Thiên Hộ Dương thế kỷ mười chín dựa vào đồng lầy mà đánh, và trong các cuộc kháng chiến sau này, Đồng Tháp Mười là căn cứ quen thuộc. Đồng hoang với người ngoài là trở ngại, với người trong vùng là chỗ nương thân.

Ở phía Long An cũ, rải rác có những dấu vết cư trú rất xưa trên các gò đất cao, cho thấy con người đã đến đây từ lâu trước khi có làng xóm như bây giờ. Nhưng khai phá trên diện rộng thì phải đợi tới khi có kênh đào và có cách đối phó với phèn.

Câu hỏi lớn nhất của vùng trũng từ xưa tới nay vẫn là một: làm sao để có nước ngọt lúc cần, thoát nước phèn lúc cần, và không bị nước nhấn chìm khi lũ về. Mọi thay đổi sau này đều là những câu trả lời khác nhau cho câu hỏi đó.

Kênh đào: mạch máu của đồng trũng

Nếu đứng trên cao nhìn xuống, Đồng Tháp Mười như một tấm bàn cờ: kênh dọc, kênh ngang cắt nhau vuông vức. Kênh được đào qua nhiều thời kỳ, có con từ rất lâu, có con mới đào sau này, nhưng cùng chung mục đích: đưa nước ngọt từ sông lớn vào đồng, tháo nước chua ra, và làm đường giao thông cho cả vùng.

Với đất phèn, kênh là thứ sống còn. Như bài đất phèn Đồng Tháp Mười đã kể, phèn chỉ bớt khi có nước ngọt rửa đi và có đường thoát. Không có kênh, nước chua đọng lại trên ruộng, lúa không sống nổi. Có kênh, mỗi mùa mưa đồng được rửa một lần.

Kênh cũng là đường đi. Trước khi có đường nhựa, ghe xuồng là phương tiện duy nhất. Lúa ra chợ bằng ghe, người đi khám bệnh bằng xuồng, trẻ con đi học cũng bằng xuồng. Nhiều làng xóm mọc dọc theo kênh, nhà quay mặt ra nước, sau lưng là ruộng. Đến giờ đi qua vùng Tân Thạnh, Thạnh Hóa vẫn thấy rõ cách bố trí ấy.

Nhưng kênh không tự giữ được mình. Phù sa bồi lấp, lục bình phủ kín, bờ kênh sạt lở. Mỗi năm, nạo vét kênh là một việc lớn của cả xã. Kênh bị bỏ bê vài năm, ruộng hai bên sẽ chua lại, ghe không đi được. Người ngoài nhìn kênh thấy cảnh, người trong vùng nhìn kênh thấy việc.

Các giai đoạn đổi thay của Đồng Tháp Mười phần Long An cũ

Bảng dưới đây tóm tắt theo cách kể phổ biến, không gắn mốc năm cụ thể vì mỗi nơi chuyển đổi một lúc.

Giai đoạnCảnh quanCách người ta sốngCái được và cái mất
Đồng hoangĐồng lầy, cỏ năn, lau sậy, ngập theo mùaSống thưa trên gò cao, đánh bắt, lấy mậtThiên nhiên còn nguyên, nhưng đời sống rất cực
Khẩn hoang, đào kênhKênh thẳng, ruộng lúa mở dần, tràm trồng ở chỗ phèn nặngNgười từ nhiều nơi về lập nghiệp, sống dọc kênhCó ruộng, có đường; nhiều năm đầu thất bát vì phèn
Đắp bờ bao, làm nhiều vụRuộng được bao bọc, làm lúa cả trong mùa nước ở nhiều nơiThu nhập từ lúa tăng, máy móc thay sức ngườiLúa nhiều hơn; đồng ít phù sa, cá ít hơn
Sống chung với lũTuyến, cụm dân cư trên nền cao, đường nâng cấpNhà dồn về tuyến, trẻ đi học bằng đường bộAn toàn hơn mùa lũ; đổi nếp sống ven kênh
Hiện nayLúa, tràm, sen, khóm, khu bảo tồn, điểm du lịchNông nghiệp kết hợp du lịch, nhiều người đi làm xaĐa dạng hơn; thách thức là nước ít, đất bạc màu, thiếu lao động trẻ

Các giai đoạn không tách bạch, nhiều nơi trong vùng vẫn đang ở giữa hai giai đoạn. Đi một ngày có thể thấy cả ruộng bờ bao kiên cố lẫn những khoảnh đồng còn để nước tự nhiên.

Bờ bao và lúa vụ ba: được gì, mất gì?

Bờ bao là bờ đất bao quanh cả cánh đồng. Bờ đủ cao để ngăn nước lũ tràn vào, giúp ruộng bên trong làm thêm một vụ lúa giữa mùa nước.

Cái được rõ nhất là thêm một vụ. Thay vì để đồng nghỉ trong mùa nước, nhà nông có thêm thu nhập từ vụ lúa thu đông.

Cái mất đầu tiên là phù sa. Nước lũ mang phù sa về bồi cho ruộng. Ruộng bị bao kín nhiều năm không nhận phù sa, phải bón phân nhiều hơn.

Cái mất thứ hai là cá đồng. Cá theo nước lũ vào đồng sinh sản. Đồng bị bao, cá không vào được, nghề đánh bắt mùa nước của người nghèo bị thu hẹp.

Ruộng không được “nghỉ” để rửa. Mùa nước xưa là lúc đồng được rửa phèn, rửa mầm bệnh. Làm liên tục, sâu bệnh có thể tích tụ.

Nước bị dồn sang chỗ khác. Khi một vùng bao bờ, nước lũ phải tìm đường khác, có thể làm vùng bên cạnh ngập sâu hơn. Đây là chuyện phải tính ở tầm cả vùng.

Chi phí đắp và giữ bờ không nhỏ. Bờ bao phải gia cố, có cống điều tiết, có máy bơm. Bờ vỡ giữa mùa nước có thể mất trắng vụ.

Nhiều nơi đang cân nhắc lại. Có những vùng chủ động để đồng nhận nước lũ một số năm, hoặc chuyển đổi sang sen, cá, tràm cho hợp nước. Không có lời giải chung cho mọi cánh đồng.

Một vụ lúa trên đất phèn diễn ra thế nào

Để hình dung công sức đằng sau hạt gạo vùng trũng, đây là trình tự thường gặp của một vụ lúa ở vùng phèn. Mỗi nơi có thể khác, nhà nông thường làm theo lịch thời vụ của địa phương.

  1. Dọn đồng sau vụ trước. Xử lý rơm rạ, gốc rạ, làm sạch bờ, sửa cống.
  2. Lấy nước ngọt vào ruộng. Mở cống đưa nước từ kênh vào, ngâm cho đất mềm.
  3. Rửa phèn. Tháo nước chua ra kênh, lấy nước mới vào, có khi làm vài lần. Chỗ phèn nặng có thể bón vôi theo hướng dẫn khuyến nông.
  4. Làm đất và san phẳng. Ruộng phẳng thì nước đều, lúa mọc đều, ít chỗ đọng phèn.
  5. Xuống giống đồng loạt. Gieo theo lịch chung của cả cánh đồng, chọn giống chịu điều kiện địa phương.
  6. Giữ nước và theo dõi. Không để ruộng khô nứt quá sâu làm phèn dậy, theo dõi sâu bệnh, bón phân đúng lúc.
  7. Thu hoạch và đưa lúa đi. Máy gặt vào đồng, lúa chở bằng ghe theo kênh hoặc xe theo đường mới ra điểm thu mua.

Nhìn trình tự này sẽ thấy vì sao một năm thất bát ở vùng phèn không phải chuyện hiếm. Chỉ cần một khâu nước trục trặc, mạ có thể chết cả mảng.

Tuyến dân cư vượt lũ: dời nhà lên nền cao

Người miền Tây vẫn còn nhắc trận lũ lớn năm 2000, khi nước lên cao bất thường, nhiều nhà cửa ven kênh bị ngập sâu, đường đi bị cắt nhiều tuần. Sau những năm lũ lớn như vậy, chương trình xây dựng các cụm, tuyến dân cư vượt lũ được đẩy mạnh: đắp nền đất cao, làm đường, đưa điện nước vào, rồi đưa các hộ ở vùng trũng thấp về sống tập trung.

Đi qua vùng Vĩnh Hưng, Tân Hưng sẽ thấy những dãy nhà thẳng hàng trên nền cao, phía trước là đường, phía sau là đồng. Mùa nước, nền nhà khô ráo, trẻ con đi học bằng đường bộ, người bệnh được đưa đi viện dễ hơn. Với nhiều gia đình, đây là thay đổi lớn nhất trong đời.

Nhưng dời nhà lên tuyến cũng đổi nếp sống. Nhà trên tuyến thường nhỏ, xa ruộng, xa bến. Người quen sống ven kênh, sáng ra là xuống xuồng, giờ phải chạy xe ra đồng. Có những hộ lên tuyến rồi vẫn giữ một chòi nhỏ ngoài ruộng để tiện làm ăn. Chuyện an cư và chuyện sinh kế không phải lúc nào cũng khớp nhau.

Khách đi qua các tuyến dân cư nên đi chậm, nhường đường cho trẻ con và người đi bộ. Đó là nơi ở, không phải điểm tham quan. Muốn hỏi chuyện thì hỏi nhẹ nhàng, người dân thường sẵn lòng kể về những mùa nước đã qua.

Những nghề làm nên sinh kế vùng trũng

Trồng lúa là nghề chính. Phần lớn đất đã khai phá dành cho lúa. Nhiều nhà nay thuê máy làm thay sức người, người trẻ đi làm xa.

Trồng tràm, bán cừ tràm. Tràm trồng trên đất phèn nặng, lớn lên chặt thành cừ dùng gia cố nền móng ở vùng đất yếu. Giá cừ lên xuống theo thị trường xây dựng.

Nuôi ong lấy mật rừng tràm. Mùa tràm trổ bông, người nuôi ong đặt thùng ven rừng. Mật tràm là sản vật quen của vùng.

Đánh bắt mùa nước. Giăng lưới, đặt lọp, đặt dớn, câu cá. Nghề này là nguồn thu quan trọng của nhà nghèo, không có ruộng.

Hái bông điên điển, bông súng. Mùa nước, người dân đi xuồng hái bán ra chợ. Việc nhỏ nhưng nhiều nhà sống nhờ nó vài tháng.

Trồng sen, trồng khóm. Sen ở chỗ trũng, khóm ở liếp trên đất phèn; chuyện mùa sen và cách mua sản phẩm sen có ở bài ruộng sen Đồng Tháp Mười. Đây là hướng chuyển đổi của nhiều ruộng lúa kém hiệu quả.

Đóng xuồng, sửa ghe. Nghề này còn ở rải rác, cao điểm trước mùa nước. Xuồng nhôm, xuồng composite đang thay dần xuồng gỗ.

Làm du lịch. Những năm gần đây có thêm nhà nghỉ, dịch vụ xuồng, quán ăn đồng quê. Du lịch còn nhỏ, nhưng là nguồn thu mới của một số xã.

Đi làm xa. Nhiều người trẻ lên TP.HCM, vào các khu công nghiệp làm việc. Ở nhiều nhà, ông bà ở quê giữ ruộng, nuôi cháu.

Ví dụ: ba thế hệ trong một nhà ở vùng Tân Thạnh

Để thấy rõ hành trình của vùng, có thể hình dung một gia đình điển hình như nhiều gia đình ở vùng Tân Thạnh. Thế hệ ông bà về đây khai hoang, ở chòi lá bên bờ kênh mới đào. Những năm đầu, ruộng chua, lúa cháy lá, có vụ không thu được gì, phải đi bắt cá, cắt cỏ bán để sống. Ông bà nhớ rõ mùi nước phèn và tiếng muỗi.

Thế hệ cha mẹ lớn lên khi kênh đã nhiều, ruộng đã ổn, đắp được bờ, làm được hai vụ, có năm ba vụ. Nhà lá đổi thành nhà tường, xuồng chèo đổi thành xuồng máy rồi xe máy. Mùa lũ lớn năm nào đó, cả nhà dời lên tuyến dân cư, nhưng ngày ngày vẫn ra ruộng.

Thế hệ con cái học hết phổ thông, đi lên TP.HCM làm việc, mỗi năm về vài lần. Ruộng thuê người làm, hoặc cho thuê lại. Đứa con nghe ông bà kể chuyện khai hoang như nghe chuyện cổ tích. Câu hỏi của gia đình bây giờ không còn là “làm sao cho ruộng hết phèn” mà là “ai sẽ giữ ruộng”.

Đây là ví dụ khái quát, không phải chuyện của một nhà cụ thể, nhưng người vùng Đồng Tháp Mười đọc sẽ thấy quen. Hiểu câu chuyện này, khách sẽ nhìn những cánh đồng thẳng tắp kia khác đi: mỗi con kênh là mồ hôi của một thế hệ.

Những hiểu lầm khi nhìn Đồng Tháp Mười từ bên ngoài

“Lũ là xấu, ngăn được càng tốt.” Lũ mang phù sa, cá tôm, rửa phèn. Ngăn hết lũ thì mất những thứ đó, và nước phải đi chỗ khác.

“Đất phèn đã cải tạo xong.” Phèn nằm sâu bên dưới, chỉ được quản lý chứ không mất. Đào bới sai cách là phèn dậy lại.

“Lúa nhiều vụ là giàu.” Thêm vụ thì thêm chi phí, phân bón, rủi ro bờ vỡ. Thu nhập thật còn tùy giá lúa từng năm.

“Người dân thích ở tuyến dân cư.” Nhiều người thích vì an toàn, nhưng cũng có người tiếc nếp sống ven kênh, gần ruộng. Đừng nghĩ ai cũng giống nhau.

“Rừng tràm là rừng tự nhiên từ xưa.” Phần lớn rừng tràm hiện nay là rừng trồng hoặc rừng phục hồi, có giá trị bảo tồn nhưng không phải nguyên vẹn từ thuở đồng hoang.

“Vùng này chỉ có lúa.” Còn tràm, sen, khóm, cá, mật ong, du lịch. Nông nghiệp ở đây đang đa dạng dần.

“Đất trũng rẻ nên mua để đầu tư.” Đất trũng có chi phí đắp nền, phèn, ngập, quy hoạch riêng. Mua đất phải tự tính kỹ, không nghe lời hứa lời lãi.

“Nước ít mấy năm nay là chuyện tốt.” Người trong vùng lo vì ít phù sa, ít cá, phèn không được rửa, mặn có thể lấn sâu hơn ở hạ lưu.

Khi nào nên hỏi người có chuyên môn hoặc cơ quan có thẩm quyền?

Muốn mua đất nông nghiệp, đất ở trong vùng. Hỏi văn phòng đăng ký đất đai, UBND xã về pháp lý và quy hoạch; nhờ luật sư xem hợp đồng nếu giá trị lớn.

Định đào ao, lên liếp, đổi cây trồng. Hỏi cán bộ khuyến nông hoặc cơ quan nông nghiệp về đất phèn, cách làm để không làm phèn dậy cả khoảnh đất.

Xây nhà trên nền đất trũng. Hỏi kỹ sư kết cấu về móng, cao độ nền so với mức nước lũ từng ghi nhận, vật liệu chống ăn mòn.

Lo về nguồn nước sinh hoạt. Xét nghiệm nước ở cơ sở có chức năng, hỏi trạm cấp nước nông thôn về khả năng đấu nối.

Gặp năm nước lên bất thường. Theo dõi thông báo phòng chống thiên tai của tỉnh, xã; làm theo hướng dẫn di dời khi được yêu cầu.

Nghiên cứu lịch sử, di tích trong vùng. Liên hệ bảo tàng tỉnh, ban quản lý di tích để có tài liệu chính xác, tránh dựa vào bài viết truyền miệng trên mạng.

Làm du lịch tại nhà, mở dịch vụ xuồng. Hỏi chính quyền xã và cơ quan quản lý du lịch về điều kiện an toàn, áo phao, giấy phép kinh doanh.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao Đồng Tháp Mười có nhiều kênh thẳng như vậy?

Kênh được đào qua nhiều thời kỳ để đưa nước ngọt vào đồng, tháo nước phèn ra và làm đường giao thông. Đào trên đồng bằng phẳng nên kênh thường thẳng, cắt nhau như bàn cờ.

Bờ bao có làm lũ ở vùng khác nặng hơn không?

Khi nhiều cánh đồng bao bờ, nước lũ có ít chỗ chứa hơn và phải đi đường khác, nên có thể ảnh hưởng vùng lân cận. Đây là vấn đề được bàn ở tầm quy hoạch cả vùng chứ không riêng từng cánh đồng.

Tuyến dân cư vượt lũ là gì?

Đó là các dãy nhà được xây trên nền đất đắp cao, có đường, điện, nước, để người dân vùng trũng thấp sống an toàn trong mùa lũ. Nhiều tuyến được làm sau những năm lũ lớn.

Cừ tràm dùng để làm gì?

Cừ tràm là thân cây tràm chặt thành cọc, dùng đóng xuống nền đất yếu để gia cố móng công trình. Đây là một nguồn thu quen của người trồng tràm vùng phèn.

Nghề đánh bắt mùa nước còn không?

Vẫn còn, nhất là ở vùng đồng còn nhận nước lũ tự nhiên. Tuy vậy cá ít hơn xưa do đồng bị bao bờ và nước về ít, nên nhiều người phải kết hợp nghề khác.

Đồng Tháp Mười có di tích cổ không?

Có những dấu vết cư trú cổ trên các gò đất cao trong vùng. Muốn tìm hiểu chính xác nên hỏi bảo tàng tỉnh hoặc ban quản lý di tích, vì thông tin trên mạng nhiều khi chưa kiểm chứng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.